weather
Thời Tiết Vũng Tàu
Nhiệt Độ: 28°C
Hiện tại: mưa nhẹ

Bạch Dinh Vũng Tàu

Nếu bạn đang có ý định đặt phòng khách sạn ở Vũng Tàu cho chuyến đi sắp tới, vui lòng đặt phòng tại đây - trên agoda.com hoặc Booking.com có coupon giảm 5% giá phòng để giúp mình duy trì blog này. Với mỗi lần đặt phòng, bạn không mất gì nhưng #yeuvungtau sẽ nhận được một khoản donate nhỏ. #yeuvungtau rất biết ơn vì điều đó!

Bạch Dinh (tiếng Pháp: Villa Blanche) một trong những địa điểm tham quan du lịch nổi tiếng tại vũng tàu mà khách du lịch nào khi đến với thành phố biển xinh đẹp này đều ghé qua một lần.

Bạch Dinh Vũng Tàu

Địa điểm này nổi bật là một dinh thự có kiến trúc châu Âu cuối thế kỷ 19, nằm bên sườn núi Lớn của thành phố Vũng Tàu. Hãy cùng Yêu Vũng Tàu khám phá địa điểm thú vị này nhé

Sơ lược về Bạch Dinh – Lịch sử xây dựng

Theo tụi mình tìm hiểu thì địa danh có từ thời Hoàng đế Minh Mạng từng cho xây dựng Pháo đài Phước Thắng tại nơi đây để kiểm soát cửa biển Cần Giờ.

Sau khi chiếm được quyền cai trị Đông Dương, chính quyền thực dân Pháp đã cho san phẳng pháo đài để xây dựng một dinh thự dùng làm nơi nghỉ mát cho các Toàn quyền Đông Dương.

Bạch Dinh Vũng Tàu

Đề án được chính Toàn quyền Paul Doumer phê chuẩn và chính ông cũng là người đặt tên cho dinh thự này là Villa Blanche, theo tên của con gái ông là bà Blanche Richel Doumer. 

Công trình được khởi công vào năm 1898, mãi đến năm 1902 mới hoàn thành. Do màu sơn bên ngoài cũng như tên gọi Villa Blanche nên người Việt quen gọi dinh thự này là Bạch Dinh.

Bạch Dinh Vũng Tàu

Paul Doumer chưa kịp sử dụng dinh thự này thì phải về nước. Người kế nhiệm là Paul Beau có lẽ mới là người đầu tiên sử dụng nó. Tuy nhiên, đến tháng 9 năm 1907, nơi này được dùng làm nơi giam lỏng cựu hoàng Thành Thái. Ông sống tại đây trong gần 10 năm. Dân địa phương kính trọng ông, nên còn gọi Bạch Dinh là Dinh ông Thượng.

Năm 1916, cựu hoàng Thành Thái cùng con trai là cựu hoàng Duy Tân bị đưa đi đày ra đảo Réunion. Bạch Dinh được sử dụng trở lại là nơi nghỉ mát của các Toàn quyền Đông Dương. Năm 1934, Bạch Dinh được nhượng lại để làm nơi nghỉ mát cho Hoàng đế Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương.

Bạch Dinh Vũng Tàu

Sau ba mươi mốt năm bị lưu đày ở Réunion, năm 1947 vị vua yêu nước Thành Thái được trở về Việt Nam, khi tàu cập bến Vũng Tàu nhà vua đã cảm xúc viết bài thơ Sầu Tây Bể Cấp nổi tiếng, sau này được khắc lưu niệm tại nhà bia thuộc khu Bạch Dinh

Sống thừa nào biết đến hôm nay
Nhìn thấy núi non đất nước này
Sừng ngựa chưa quên câu chuyện cũ
Ruột tằm chín khúc mối sầu tây
Thành Xuân muôn dặm mây mù tịt
Bể Cấp tứ bề bủa sóng vây
Tiếng súng ngày đêm như khúc nhạc
Dẫu cho sắt đá cũng chau mày.

Trong những năm sau đó, dinh luôn được dùng làm nơi nghỉ mát của nguyên thủ hoặc các quan chức cao cấp của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Sau năm 1975, có thời gian dinh không được sử dụng vào mục đích cụ thể nào trước khi chính thức được chuyển thành một địa điểm du lịch.

Kiến trúc của Bạch Dinh Vũng Tàu

Bạch Dinh là một dinh thự với lối kiến trúc châu Âu vào cuối thế kỷ 19, nằm bên sườn núi Lớn của thành phố Vũng Tàu, cao 19m, rộng 15m, dài 28m, gồm 3 tầng: Tầng hầm làm nơi nấu nướng; tầng trệt vừa làm nơi khánh tiết vừa dùng bày trí một số hiện vật cổ xưa như: Song bình bách điểu chầu phụng, bộ tràng kỷ hoàng gia có niên đại Khải Định (1921), cặp ngà voi châu phi dài 170cm…

Bạch Dinh Vũng Tàu

Bạch Dinh Vũng Tàu

view nhìn ra từ bạch dinh

Bạch Dinh Vũng Tàu

Tầng lầu thoáng hơn dành cho việc nghỉ dưỡng. Nhưng có lẽ ấn tượng hơn cả là 8 bức chân dung tạc các vị thần Hy Lạp thời cổ đại, từ gương mặt, mắt mũi đến sắc thái đều biểu hiện rõ ràng, sắc nét và tinh tế. Trải qua hơn thế kỷ, với bao biến đổi của thời gian, Bạch Dinh vẫn giữ nguyên tính sang trọng, hài hòa và uy nghiêm hiếm thấy.

bên trong bạch dinh

bên trong bạch dinh

bên trong bạch dinh

bên trong bạch dinh

bên trong bạch dinh

bên trong bạch dinh

bên trong bạch dinh

Từ năm 1991 đến nay một phần của Bạch Dinh được dùng làm bảo tàng, trưng bày 8.000 hiện vật độc bản nằm trong bộ sưu tập cổ vật gốm sứ có niên hiệu Khang Hy (TK 17) được trục vớt từ “kho báu Hòn Cau”. Các nhà khảo cổ cho biết số cổ vật này nằm dưới đáy biển gần 300 năm, tính đến thời điểm trục vớt nhưng vẫn giữ được màu men tuyệt đẹp.

Nếu đem so với những bộ sưu tập khác được trục vớt trong vùng biển Cù Lao Chàm, Cà Mau, Bình Thuận… bộ sưu tập cổ vật Hòn Cau vẫn luôn được đánh giá là bộ sưu tập đẹp nhất.

Hướng dẫn đến Bạch Dinh

Bạch Dinh không chỉ làm mê mẩn toàn quyền Pháp ở Đông Dương Paul Doumer, các quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ mà cho đến thời điểm hiện tại thì đây cũng là một trong số rất nhiều địa điểm tham quan của Vũng Tàu, thu hút được đông đảo khách du lịch đến tìm hiểu về lịch sử và tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên. 

Được tọa lạc ở vị trí cao ráo cách mực nước biển gần 30m, từ tiền sảnh Bạch Dinh nhìn xuống, du khách sẽ có cảm giác như đang ở tầng lầu của một tòa cao ốc xây dựng trên mặt nước biển, có thể phóng tầm mắt bao quát cả trung tâm thành phố Vũng Tàu.

view nhìn ra từ bạch dinh

Có hai lối lên Bạch Dinh: một đường uốn quanh chạy dưới rừng cây giá tỵ dành cho xe hơi lên tới tiền sảnh. Một đường đi bộ qua 146 bậc tam cấp cổ xưa, kín đáo nằm giữa hai hàng sứ cao niên.

khẩu súng thần công

Hiện nay, Bạch Dinh được dùng làm nhà bảo tàng, trưng bày các chuyên đề như: đồ gốm thời Khang Hy vớt được từ xác tàu cổ đắm tại khu vực Hòn Cau – Côn Đảo, súng thần công cùng nhiều hiện vật có giá trị khác được tìm thấy qua các đợt khai quật khảo cổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu…

Giá vé vào cổng: 15.000 đồng/người

  • Giá vé giữ xe máy: 5.000 đồng/xe
  • Giá giữ xe ôtô: <12 chỗ: 15.000 đồng/xe, >12 chỗ: 30.000 đồng/xe

Địa chỉ: Số 4 đường Trần Phú, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Cuộc tình của vua Thành Thái ở biệt thự Bạch Dinh

Biệt thự Bạch Dinh được xây bên sườn núi Lớn (phía Bắc thành phố Vũng Tàu) ở độ cao chừng 30 mét. Đây là công trình kiến trúc hoàn hảo, theo phong cách châu Âu thế kỷ 19, nằm trong khuôn viên rộng 6ha. Chung quanh dinh thự là hai khu rừng cây sứ và giá tỵ. Mùa hoa sứ nở trắng ngợp, điểm những khóe vàng, đỏ như chiếc khăn mây bồng bềnh bao quanh dinh thự, đẹp như mơ…Không những thế nơi đây còn gắn liền với câu chuyện ly kỳ như đả hổ đoạt tình hay chuyện tình của cựu hoàng Thành Thái và hoàng đế Bảo Đại.

chuyện vua thành thái

Ðả hổ đoạt tình

Theo người xưa kể lại rằng rừng rậm trên núi Lớn có rất nhiều hổ báo, rắn rết sinh sống, không mấy ai qua lại. Người trong Bạch Dinh chỉ lên con đường nhỏ xa tít và nói đó chính là nơi lên lán ở của hai ông cháu nghèo nhặt củi, săn bắn kiếm kế sinh nhai. Người ông nom tráng kiện, giỏi võ nghệ, hay đọc sách văn chương vào lúc nhàn rỗi.

Hằng ngày ông cặm cụi lên thác, vào hang săn bắn, rồi xuống núi đổi lấy gạo muối nuôi người cháu gái mồ côi. Người dân quen gọi là ông Giáo, còn cô cháu gái xinh xắn tên là Mai. 

Hay tin có ông già trên núi giỏi võ nghệ, nhiều chàng trai đã tìm đến học hỏi. Ai nấy đều hăng say ngày đêm rèn luyện và ngày càng tiến bộ hơn. Hỏi ra, ông Giáo mới hay đó là những nghĩa sĩ đang tìm đường đầu quân cho ba anh em nhà Tây Sơn, chuẩn bị cuộc khởi nghĩa, diệt chúa Nguyễn ở đàng trong.

 Cách đây chừng gần 300 năm có nhiều bãi đất phẳng ngập cỏ lau được phát quang để làm nơi nghĩa quân tập đánh trận. Ngay cả bãi đất trống, nơi xây Bạch Dinh ngày nay nhìn ra biển, cũng là nơi các võ sĩ tập thiền và thử sức so tài, luyện kiếm. Người ta còn kể, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ cũng đã lên học hỏi và lắng nghe về binh pháp của ông Giáo. 

Đó là nguồn khích lệ có tính dự báo về thời cuộc và những cơ hội khởi binh. Mọi người đều tôn ông Giáo là sư phụ bí ẩn. Ông thầm lặng như một tảng đá vậy. Mỗi lần ông Giáo múa gươm lại như cuồng phong che kín thân mình và ra đòn bất ngờ. Quả đây là một nhân vật kỳ lạ, biết nhìn xa trông rộng và mạnh mẽ, kiên cường.

Còn cô cháu gái của ông, cô trưởng thành và xinh đẹp như bông hoa rừng tươi sắc, thơm hương. Nhan sắc ấy khiến nhiều chàng trai đã lên núi thăm hỏi và say đắm nhìn cô, nhưng họ lại sợ ông Giáo nên chưa ai dám ngỏ lời. Không ít nghĩa sĩ Tây Sơn cũng mê mẩn vì sắc đẹp tự nhiên của Mai. Ai nấy đều thầm ước một ngày nào đó sánh vai người đẹp đi trong rừng hái nấm và săn bắn chim muông. Nhưng mỗi lần thoáng thấy bóng sư phụ là lại câm bặt không dám bàn tán xôn xao. Từ đó họ chỉ biết chăm chỉ trui rèn đường kiếm, tay đao.

Một hôm mải mê kiếm củi trong rừng, bất ngờ Mai gặp một con hổ lớn đang rình bên vách hang mà không hề hay biết. Khoảng cách mỗi lúc một gần. Khi mùi hôi của con hổ sực lên thì không kịp nữa. Mai nhanh chân luồn qua những gốc cây để tránh hổ vồ. Thoát khỏi cánh rừng già, nhưng Mai lại rơi vào một bãi cỏ lau bằng phẳng, nguy cơ ập đến.

Con hổ tung chân lao tới, Mai chỉ biết co người lăn xuống dốc, thì bất ngờ một tráng sĩ tung người bay từ trên cao xuống đã trúng mắt con hổ. Bị cú đòn hiểm, con hổ bật ngửa rồi quay lại tấn công chàng trai kia, với sự tức khí điên cuồng. Trong chớp mắt tráng sĩ rút kiếm tung đòn chém như lướt trên mặt nước vậy. Con hổ bị thương vào lưng hú vang cả rừng núi. Nó lại nhảy bổ vào người tráng sĩ, nhưng không ngờ phải nhận đường kiếm cuối cùng xuyên qua họng, nằm giãy đành đạch trên bãi lau.

Tráng sĩ vội cõng cô bé chạy xuống dốc về nhà. Sư phụ hớt hải bước ra, biết chuyện ông cúi đầu chắp tay chịu ơn người tráng sĩ dũng mãnh kia. Khi ngẩng lên nhìn kỹ, ông mới phát hiện ra đó là tráng sĩ Lê Tuấn, một võ tướng kiên trung của Nguyễn Huệ. Bất ngờ ông Giáo ngỏ ý gả cháu gái của mình cho Lê Tuấn, để đền đáp công ơn cứu mạng của chàng.

 Mai đỏ mặt vâng lời e thẹn. Lê Tuấn cúi đầu chắp tay cảm tạ. Hai người bàn hẹn đến ngày cưới trước ba quân. Cụ Giáo đột ngột chỉ tay lên đỉnh núi nói: “Nơi đây đã chứng kiến mối lương duyên của tráng sĩ và cháu gái lão. Lão xin đặt tên núi là Tương Kỳ”. Chính vì thế dân quanh vùng xa xưa đã từng gọi tên núi là Tương Kỳ là vì vậy.

Trốn tù tìm vợ

Nghe người Bạch Dinh kể lại, cách đây hơn trăm năm ngôi biệt thự màu trắng này còn là một nhà tù, không hơn không kém. Bạch Dinh chính là nơi vua Thành Thái bị giặc Pháp giam lỏng, vào năm 1907. Thành Thái là vua thứ 10 của triều Nguyễn tại Huế. Ông có tinh thần yêu nước và quyết chí kháng Pháp đến cùng. Giặc lo sợ ép ông thoái triều và đưa vào Vũng Tàu an trí ở Bạch Dinh. Thực chất vua Thành Thái bị quản thúc tại đây.

Hàng ngày ông quanh quẩn trong rừng hoa sứ bên sườn núi Lớn, đọc sách và ngắm cảnh non xanh nước biếc, không được liên hệ với ai. Gia đình chỉ có mấy người đi cùng giúp việc và chăm lo cho vua ăn uống nghỉ ngơi. Một cuộc sống buồn tẻ của một kẻ bị cầm tù. Chính vì vậy, ông đã nung nấu lòng hận thù và truyền lại cho người con kế tiếp ngôi báu sau là Duy Tân, sống với ý chí tiêu diệt ngoại binh xâm lược.

Một ngày mùa hè năm 1916, cựu hoàng Thành Thái khi ấy mới gần 40 tuổi, phóng xe khỏi Bạch Dinh. Nói là đi dạo quanh thành phố Vũng Tàu, nhưng ngài lại vượt đường ven biển tới vùng đất đỏ ngắm núi Thùy Vân, rong ruổi đó đây. Bất ngờ vua nhìn thấy một cô gái phi ngựa đi phía trước, nom thanh tú, cùng với đôi mắt to tròn mạnh mẽ trên yên cương. Thấy gương mặt cô gái thật cá tính, cùng dáng vóc cuốn hút, vua Thành Thái bèn nhấn ga xe đi theo sau.

Khi biết nơi ăn chốn ở của cô gái, ở gần đình Phước Thọ; vua gặp ông Hội đồng làng hỏi thăm gia đình cô gái, ngỏ ý mình muốn cưới nàng làm thứ phi. Cô thôn nữ đó trên là Trần Thị Đê, sinh năm 1884. Thuận tình, cô Đê về Vũng Tàu sống với vua Thành Thái và trở thành thứ phi, ở tại Bạch Dinh. Hàng ngày thứ phi cưỡi ngựa cùng vua rong chơi lên đỉnh núi Lớn. Hai người hạnh phúc bên nhau. Nhưng chưa được bao lâu, khoảng 5 tháng sau, giặc Pháp bí mật đưa vua Thành Thái cùng con trai là vua Duy Tân xuống tàu đi đày sang đảo Reunion, tận châu Phi.

Nhưng cuộc tình của vua Thành Thái với cô gái nông dân vẫn chưa chấm dứt. Vì khi đó thứ phi Trần Thị Đê đã có thai được 3 tháng và phải trở về quê chờ sinh nở. Đầu năm sau, công chúa Trần Thị Kiều ra đời, nhưng không hề biết mặt cha. Hai mẹ con đùm bọc nhau trong khốn khó. Vua thì bặt vô âm tín.

 Ròng rã suốt hơn 30 năm sau, bất ngờ vua Thành Thái vẫn còn sống trở về. Năm 1947, ông được phóng thích, nhưng vẫn bị quản thúc tại Sài Gòn. Vua Thành Thái vội về Vũng Tàu tìm lại người tình xưa. Mừng mừng tủi tủi. Phận vợ chồng vẫn nặng nghĩa đậm duyên. Hai cha con ngọt bùi chia sẻ sau hơn 30 năm xa cách. Bù lại vua Thành Thái dồn hết tâm trí và tiền của cho cô công chúa của mình.

Hàng ngày hai cha con đi đây đó trò chuyện, chụp hình kỷ niệm. Công chúa thường nhắc lại thuở ấu thơ cô đơn buồn tủi của mình. Còn vua Thành Thái vẫn đau đáu nỗi hận trong lòng vì không giúp được gì cho dân tộc. Một kẻ bị cầm tù lưu vong buồn sầu. Có lần về lại Bạch Dinh ông đã làm bài thơ Sầu tây bể cấp để bày tỏ nỗi lòng ai oán của mình về đất nước. Sau đó, cuộc đoàn viên cũng không được mấy năm, vì bị quản thúc và già yếu bệnh tật, vua Thành Thái vĩnh biệt thế gian vào năm 1954. Bài thơ Sầu tây bể cấp hiện được khắc trên bia đặt tại Khu di tích lịch sử văn hóa Bạch Dinh.

Rừng hoa sứ phía sau Bạch Dinh

Bạch Dinh gắn liền với rừng hoa sứ thơm mang hơi hướng thiền làm dịu lòng người. Năm 1934 khi biệt thự này được nhượng lại cho vua Bảo Đại và Nam Phương hoàng hậu làm nơi nghỉ mát. Ai cũng rõ hôn nhân của đôi vợ chồng này không mặn mà gì cho lắm.

 Trong khi vua Bảo Đại là người thích ăn chơi, nghĩ suy nông cạn thì Nam Phương là người ham học và cân nhắc trong mọi ứng xử. Không ít việc, Bảo Đại còn phải hỏi ý kiến Nam Phương, rồi mới quyết định. Nhưng chính vì sự ăn chơi, phong tình, Bảo Đại chả mấy khi quan tâm tới vợ.

Rừng hoa sứ phía sau Bạch Dinh

Rừng hoa sứ phía sau Bạch Dinh

Mỗi lần lên Bạch Dinh, sau những tiệc tùng ồn ào, thì Nam Phương lại sống trong cô đơn trầm lắng, vì Bảo Đại thích giao du đó đây. Mỗi khi cô đơn phiền muộn bà thường dạo bước trong rừng hoa sứ ngát hương. 

Mỗi bước đi là một bông hoa rụng theo nỗi niềm Nam Phương. Lòng bỗng về nơi cõi Phật nhẹ nhõm thanh tịnh. Nam Phương Hoàng hậu đi tìm cõi riêng của lòng mình. Bởi chính ngai vàng của vị vua ham chơi đã làm tàn tạ nhan sắc thiên phú của một cô gái miền sông nước Sa Đéc dịu dàng. 

Hoàng hậu Nam Phương cô đơn cho đến cuối đời. Nhất là từ năm 1947, bà sang Pháp sống ở một dinh thự lớn, cách Paris chừng hơn 400 cây số. Người dân quanh vùng kể, chẳng mấy khi thấy Bảo Đại về thăm vợ. Khi ấy, ông bỏ đi sống ở miền Nam nước Pháp với niềm vui thú riêng, chẳng đoái hoài gì gia đình. Hoàng hậu Nam Phương thui thủi lặng lẽ như ngày nào ở Bạch Dinh. Một mình. Và khi bà mất năm 1963, cũng một mình, không có mặt chồng và con.

Bạch Dinh ngày ấy và bây giờ

Bắt đầu trong tuần thứ 2 của tháng 9 này, chuyên mục Khám phá Vũng Tàu của Bariavungtau.com sẽ giới thiệu với độc giả những hình ảnh thật thú vị trong chuyên đề “Vũng Tàu xưa và nay”. Qua chuyên mục này giúp khách du lịch cũng như người địa phương hiểu hơn về văn hóa, lịch sử của Thành phố Vũng Tàu, một thành phố du lịch có từ lâu đời và nổi tiếng nhất nước này. Bản thân tôi khi nhìn những hình ảnh này có nhiều cảm xúc đặc biệt. Những hình ảnh yên bình, nên thơ của quá khứ, có những giá trị thiêng liêng mà Vũng Tàu ngày nay khó mà có được.

Đây cũng là những cố gắng và trách nhiệm của Ban biên tập chúng tôi, đang nổ lực, cố gắng xây dựng một hình ảnh về Vũng Tàu, một thành phố đáng sống nhất Việt Nam.

Qua đó chúng tôi cũng chia sẻ và mong muốn đón nhận những góp ý, cung cấp thông tin thêm của độc giả để chuyên mục này ngày một thú vị hơn, góp phần xây dựng một hình ảnh đẹp về Thành phố Vũng Tàu trong tâm trí khách du lịch, nhà đầu tư và với thế hệ trẻ tiếp nối.

Bắt đầu ngày hôm nay, tôi rất vui khi giới thiệu một góc ảnh về Bạch Dinh ngày ấy và bây giờ

Bạch Dinh (tiếng Pháp: Villa Blanche) là một dinh thự có kiến trúc châu Âu cuối thế kỷ 19, nằm bên sườn núi Lớn của thành phố Vũng Tàu. Nơi đây từng được dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn quyền Đông Dương, Hoàng đế Bảo Đại và các đời Tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Nơi đây cũng là nơi chính quyền thuộc địa Pháp làm nơi giam lỏng vua Thành Thái từ ngày 12 tháng 9 năm 1907 đến năm 1916. Ngày nay, dinh là một địa điểm tham quan của du khách khi đến Vũng Tàu.

bạch dinh năm 79
Phía trên là Bạch Dinh,phía dưới là Villa Blanche

Bạch Dinh nằm ở phía nam núi Lớn, nằm ở vị trí cao 27m so với mực nước biển. Dinh có kiến trúc châu Âu cuối thế kỷ 19, nhìn ra Bãi Trước, xung quanh là một khu rừng nhỏ với nhiều loại cây, đặc biệt là cây sứ.

Có hai lối lên Bạch Dinh. Một đường uốn quanh chạy dưới rừng cây giá tỵ, dành cho xe hơi lên tới tiền sảnh. Một đường đi bộ qua 146 bậc tam cấp cổ xưa, kín đáo nằm giữa hai hàng sứ cao niên. Bạch Dinh cao 19m, có ba tầng, mang đậm sắc thái kiến trúc của Pháp thời cuối thế kỷ 19. Tầng hầm dùng cho việc nấu nướng. Tầng trệt dùng làm khánh tiết. Tại đây còn bài trí những hiện vật cổ xưa dùng để trang trí nội thất như: Song bình Bách điểu chầu phụng, bộ tràng kỷ Hoàng Gia ghi niên đại Khải định năm 1921, cặp ngà voi Châu Phi dài 170 cm, bộ tam đa ngũ thái Phúc – Lộc – Thọ. Tầng lầu thoáng đạt dành cho việc nghỉ ngơi. Dạo quanh Bạch Dinh, du khách không khỏi ngạc nhiên về tám bức tượng đá bán thân gắn trên một đường thẳng bao quanh ba mặt tường chính của toà nhà. Hầu hết tượng đều mang phong cách của nghệ thuật Hy Lạp cổ đại. Lúc bình minh hay khi chiều xế bóng, những bức tượng ký hoạ chân dung đối xứng trên nền chim công lấp lánh, trông thật tráng lệ và kỳ diệu.

Bạch Dinh Vũng Tàu
Bạch Dinh ngày nay qua góc nhìn này có 1 dây phơi lòng thòng phía trên, phía dưới Villa Blanche đã bị cây che khuất

Hiện nay, Bạch Dinh được dùng làm nhà bảo tàng, trưng bày các chuyên đề như: đồ gốm thời Khang Hy vớt được từ xác tàu cổ đắm tại khu vực Hòn Cau – Côn Đảo, súng thần công cùng nhiều hiện vật có giá trị khác được tìm thấy qua các đợt khai quật khảo cổ ở Bà Rịa – Vũng Tàu… đến Bạch Dinh, du khách có thể tận hưởng không khí trong lành của biển, vẻ đẹp kiều diễm của Bạch Dinh hòa lẫn trong thiên nhiên cây cỏ, và được tận mắt thưởng ngoạn những cổ vật tiêu biểu, quý hiếm.

Tổng hợp: Yêu Vũng Tàu

Xem thêm các địa điểm tham quan khác ở Vũng Tàu:

Đi Vũng Tàu một ngày thì nên đi đâu, chơi gì, ăn gì ?

Du lịch Long Hải và chia sẻ những thông tin bạn cần biết

Bỏ túi 18 địa điểm chụp hình đẹp ở Vũng Tàu

Hòn Bà Vũng Tàu

Bãi Trước Vũng Tàu

Mũi Nghinh Phong

Tìm Bạch Dinh Vũng Tàu trên Google Maps

Đóng QC